Quá trình thành lập

LƯỢC SỬ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

Theo sách “Gia Định Thành thông chí” của Trịnh Hoài Đức, thì địa bàn phường Nguyễn Cư Trinh, Quận 1 ngày nay gắn liền với lịch sử hơn 300 năm phát triển của thành phố Sài Gòn – Gia Định. Sài Gòn xưa gọi là Bến Nghé, vùng đất này được người Việt khai phá kéo dài từ Chợ Quán, Nguyễn Cư Trinh, Bà Chiểu… Thời kỳ đó, Sài Gòn là tên của vùng đô thị, được bảo vệ bởi các lũy Cầm Thảo (xây năm 1700), lũy Hoa Phong (xây năm 1731) và lũy Bán Bích (xây năm 1772). Đến năm 1778, vùng đất này có nhiều người Hoa chạy loạn từ cù lao Phố đến sinh sống bên bờ kênh Bến Nghé – Tàu Hủ (nay là khu vực Chợ Lớn), lập phố chợ thương mại, giao thương với người Trung Hoa, người Tây Dương, Nhật Bổn, thuyền buôn ra vào đông đảo, tấp nập. Trong khi đó, đại đa số cư dân người Việt sinh sống bằng hoạt động sản xuất nông nghiệp.

Từ năm 1801, khi Tả tướng quân Lê Văn Duyệt giữ chức Tổng trấn Gia Định thành, thì người Việt thực hiện nhiều công trình xây dựng mới, có công trình tiêu biểu như: Thành Bát Quái được mệnh danh là Gia Định kinh, nằm gọn trong địa bàn quận 1 ngày nay và thành Phụng được xây dựng vào năm 1836. Để cải tổ về quản lý hành chính, dân cư, chính quyền thời đó đã thành lập hàng loạt thôn (làng). Phần đất của phường Nguyễn Cư Trinh ngày nay thuộc thôn Nhơn Hòa, tổng Bình Trị, huyện Tân Bình. Tuy nhiên, thời kỳ Pháp thuộc, để thực hiện đô thị hóa, người Pháp đã phá bỏ hết các thành, lũy để xây dựng những công trình kiến trúc tiêu biểu mang phong cách châu Âu. Theo đó, các thôn Nhơn Hòa, Nghĩa Hòa nói riêng và Sài Gòn – Bến Nghé nói chung được xây dựng nhiều công trình kiến trúc phục vụ cho việc cai trị và khai thác kinh tế. Ngoài việc xây dựng khu hành chính, người Pháp còn bắt phu xây dựng các công trình hạ tầng giao thông, như đường phố, đường xe lửa, bến cảng…

Tuy gắn liền với lịch sử hơn 300 năm, khởi đầu do các đời chúa Nguyễn đưa dân đi mở cõi, khẩn hoang vùng đất phương Nam, nhưng địa bàn phường Nguyễn Cư Trinh xưa kia là một vùng đất hoang vu, dân cư thưa thớt, chủ yếu là người miền Trung đến sinh sống bằng nghề sản xuất nông nghiệp, khai phá đất hoang trồng rau, trồng lúa và nghề chài lưới ở ven kênh Bến Nghé, Tàu Hủ; người dân ở các vùng phụ cận chọn làm nghĩa địa (khu Mả Lạng).

Cuối thế kỷ XVIII, sau khi Pháp chiếm thành Gia Định, chúng cho mở mang Sài Gòn đến các vùng Phú Nhuận, Gò Vấp, xây dựng hoàn chỉnh đô thị Sài Gòn, phát triển các ngành nghề công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, sản xuất ra nhiều sản phẩm tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Với những tòa nhà tráng lệ, các công trình đô thị, thông tin viễn thông, giao thông vận tải, nhất là các hoạt động lưu thông, thương mại, dịch vụ,… nên Sài Gòn thời đó được mệnh danh là “Hòn ngọc Viễn Đông”, mà phần lớn được tập trung ở Quận 1 và một phần Quận 3. Từ năm 1955 đến năm 1975, Sài Gòn là thủ đô của chế độ ngụy quyền tay sai của đế quốc Mỹ. Theo đó, một số công trình kiến trúc được xây mới hoặc tôn tạo lại như: Dinh Độc lập, Tổng nha Cảnh sát, Nha Cảnh sát Đô thành, thư viện, các ngân hàng, khách sạn cao tầng.

Với mưu đồ phá hoại Hiệp định Genève, Mỹ thế chân Pháp, loại Bảo Đại, đưa Ngô Đình Diệm lên cầm quyền và thành lập Đô thành Sài Gòn, gồm 8 quận hành chính. Quận Nhất và quận Nhì, ở vị trí trung tâm, nơi tập trung các cơ quan đầu não của chính quyền, như Phủ Tổng thống (Dinh Độc Lập), Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng, trụ sở Quốc hội, Phủ Đặc ủy Tình báo, Tối cao Pháp viện, Đài Phát thanh… cùng sứ quán của nhiều nước.

Năm 1959, chính quyền Ngô Đình Diệm ra sắc lệnh tổ chức lại đô thành Sài Gòn. Theo đó, quận Nhất có 3 phường là: Trần Quang Khải, Tự Đức và Bến Nghé; quận Nhì có 7 phường là: Cầu Kho, Cầu Ông Lãnh, Huyện Sĩ, Nguyễn Cảnh Chân, Bùi Viện, Bến Thành và Nguyễn Cư Trinh.

Sau ngày miền Nam giải phóng, chính quyền cách mạng giữ nguyên hiện trạng các đơn vị hành chính của thành phố và các địa phương để thực hiện việc quản lý nhân khẩu, hộ khẩu và các hoạt động của nhân dân. Theo đó, quận Nhất gồm 3 phường (Trần Quang Khải, Tự Đức và Bến Nghé) với 23 khóm, dân số 88.088 người. Quận Nhì có 7 phường (Cầu Kho, Cầu Ông Lãnh, Huyện Sĩ, Nguyễn Cư Trinh, Nguyễn Cảnh Chân, Bùi Viện và Bến Thành) với 34 khóm, dân số 164.270 người. Phường Nguyễn Cư Trinh khi đó gồm 5 khóm, dân số 22.481 người1.

Lịch sử truyền thống đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân quận 1, ghi rõ: Cuối năm 1975, Ủy ban nhân dân thành phố ra Chỉ thị 24/CT-UBND, chuyển đổi cơ chế hành chính từ 4 cấp còn 3 cấp. Thực hiện Chỉ thị của Ủy ban nhân dân thành phố, quận Nhất và quận Nhì đã tiến hành nhập khóm, chia phường. Quận Nhất từ 3 phường được chia thành 10 phường, theo thứ tự từ 1 đến 10. Quận Nhì từ 7 phường được chia làm 15 phường (từ 11 đến 25). Phường Nguyễn Cư Trinh chia thành 2 phường (14 và 15).

Tháng 5 năm 1976, quận Nhất và quận Nhì sáp nhập thành Quận 1, phân giới hành chính giữ nguyên 25 phường (theo thứ tự từ 1 đến 25), với 884 tổ dân phố. Từ đó đến nay, tên gọi và địa giới của Quận 1 không thay đổi, nhưng cấp phường có 2 lần thay đổi. Tháng 8 năm 1982, Quận 1 thực hiện phương án quy hoạch lại địa giới hành chính cấp phường lần thứ nhất. Theo đó, Quận 1 sắp xếp lại từ 25 phường xuống còn 20 phường, với 105 khu phố, 1.200 tổ dân phố (giải thể 5 phường là: Phường 2, 5, 9, 16 và Phường 22).

Thực hiện Quyết định số 184/HĐBT, ngày 28 tháng 12 năm 1988 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ), Quận 1 tiếp tục phân chia lại địa giới hành chính cấp phường. Từ 20 phường được tổ chức lại thành 10 phường mới theo phương án cụ thể là: Sáp nhập các phường 1, 3, 4 thành phường Tân Định; Phường 6 và 7 sáp nhập thành phường Đa Kao; Phường 8 và 10 sáp nhập thành phường Bến Nghé; Phường 11 và 12 sáp nhập thành phường Bến Thành; Phường 13 và 17 sáp nhập thành phường Phạm Ngũ Lão, Phường 14 và 15 sáp nhập thành phường Nguyễn Cư Trinh; Phường 18 và 19 sáp nhập thành phường Nguyễn Thái Bình; Phường 20 đổi thành phường Cầu Ông Lãnh; Phường 21 và 23 sáp nhập thành phường Cô Giang; Phường 24 và 25 sáp nhập thành phường Cầu Kho.